Chiến Dịch Di Tản Người Thượng Saigon 1975

T́nh Người Chiến Hữu Năm Xưa


Chiến Dịch Di Tản Người Thượng Sài G̣n năm 1975
T́nh Người Chiến Hữu Năm Xưa

Sau chiến dịch di tản trẻ mồ côi Việt Nam vừa chấm dứt, Pḥng An Ninh DAO (Tùy Viên Quân Sư Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ) tại Tân Sơn Nhứt rất bận rộn. Chúng tôi phải sắp xếp trang bị và bố trí nhân sự biến cái câu lạc bộ Bolling Center thành một cái trung tâm làm thủ tục đưa mấy chục ngàn người Mỹ và thân nhân của họ ra khỏi Việt Nam.

Một hôm Ông J.G. Trưởng pḥng An Ninh của DAO bảo tôi đi với ông qua văn pḥng của Thiếu Tá Ng. Chỉ Huy Trưởng An Ninh phi trưởng Tân Sơn Nhứt. Gặp Thiếu Tá Ng. Ông J.G. thông báo cho biết Ṭa Đại Sứ Mỹ đang thương thuyết với Bộ Ngoại Giao Việt Nam (Cộng Ḥa) để đem một số cựu quân nhân người Thượng đi Mỹ. Ngày giờ khởi hành th́ chưa biết. Số người là bao nhiêu và hiên giờ họ ở đâu chúng tôi cũng không biết. Chỉ biết rằng tất cả những người Thượng này và gia đ́nh của họ do một mục sư bảo lănh và chỉ huy. Vị Mục Sư này trực tiếp liên lạc với Ṭa Bach Ốc với Đại Sứ (Mỹ) và chánh phủ Việt Nam Cộng Ḥa.

Những người Thượng này không phài là lính chánh quy của quân đội Việt Nam Cộng Ḥa. Họ là cựu lính Biệt Kích do Mỹ trực tiếp tuyễn mộ và huấn luyện bởi các đơn vị Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ (U.S Special Forces) ở nhiều nơi như Căn Cứ Biệt Kích Biên Ḥa, Trại Biệt Kích Pleiku, Lực Lượng Đặc Biệt Đồng Ḅ Nha Trang và một số căn cứ bí mật khác.

Trong quá khứ các anh em người Thượng chiến đấu rất hăng say sát cánh với Biệt Kích Mỹ. Các anh em này đă tham dự nhiều trận đánh ác liệt trên các mặt trận biên giới Việt, Miên, Lào. Họ thường xuyên cùng với Biệt Kích Mỹ hành quân phá phách quân Bắc Việt trong các vùng hiểm trở Trường Sơn Đông và Trường Sơn Tây. Họ cùng đi toán nhảy dù qua bên kia Vỉ Tuyến. Sau khi Biệt Kích Mỹ rút khỏi chiến trường Việt Nam, các anh em người Thượng này giải tán, có người trở về làng cũ Pleiku, Kontum hoặc Lâm Đồng. Một số anh em được các hảng An Ninh của Mỹ tuyển mộ vào làm bảo vệ an ninh cho các cơ sở Mỹ ở Sài G̣n, Biên Ḥa và các tỉnh.

Từ đầu năm (1975) cho đến nay, môt số tướng lảnh và chánh trị gia có thế lực của Mỹ lo sợ những anh em người Thượng này sẽ bị trả thù khi Việt Cộng chiếm miền nam, họ làm áp lực với Tổng Thống Ford để đem hết cựu quân nhân người Thượng và gia đ́nh của họ qua Mỹ càng sớm càng tốt. .

Ông J.G. cũng cho biết là Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận Không Lực Hoa Kỳ (US Airforce Logistic Command) đă thành lập xong và đang có mặt tại Guam và Okinawa (Nhựt), Chúng tôi tập trung hết tất cả phương tiện, sẵn sàng chờ lệnh.

Một buổi trưa nọ, bất th́nh ĺnh xuất hiện một đoàn xe buưt mang bản số TMP (Transportation Motor Pool) của DAO chậm răi chạy ngan trước cổng Bộ Tổng Tham Mưu Việt Nam Cộng Ḥa, đoàn xe dừng tại cổng gát của Quân Cảnh Không Quân Việt Nam.

Chiếc xe hướng dẫn đi đầu bị chận lại v́ chưa có lệnh của Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng phi trường. Sau một hồi thương thuyết đ̣an xe tiến hành chậm răi từng chiếc một, chạy vào cổng Phi Long Tân Sơn Nhứt.

Đứng trên lầu ṭa nhà Bộ Chỉ Huy của DAO tôi thấy đoàn xe rất dài. Chiếc xe hướng dẫn đi đầu th́ ngừng ở cổng gác của Quân Cảnh mà đoàn xe th́ nằm dài măi tận trên đường Hai Bà Trưng. Tôi đi qua văn pḥng báo cho ông trưởng pḥng An Ninh DAO họ đă đến rồi.

Đoàn xe từ từ lướt qua cḥi canh Quân Cảnh chạy vào Phi Cảng Tân Sơn Nhứt. Xuyên qua ánh nắng tôi thấy rơ người ngồi trên xe nghiêm chỉnh, trong xe có một ít đồ vật, không có đồ vật trên xe, khác với lần tôi đi hành quân yễm trợ chiến dịch di tản người thượng trong vùng sôi động về quận Cam Lâm Nha Trang mấy năm trước.

Nhớ lại cái hôm đó mà buồn cười. Buổi sáng hôm đó khi xe phóng thanh của chúng tôi Toán Tâm Lư Chiến của Mỹ (Đại Đội A Psychological Warfare) theo yễm trợ. Tôi bắt đầu phát thanh kêu gọi đồng bào chiến dịch di tản khởi sự th́ thấy dân chúng trong buôn nhôn nháo, người lớn trẻ nhỏ phát tay xua đuổi, anh A Yá, (người Thượng Radhe) đại diện cho dân làng đối thoại với mấy anh biệt kích Mỹ.


A-Yá nói “Mấy đứa nó không chịu đi. Ông Mỹ không cho bắt con gà, con vịt, con chó đem theo. Nó không chịu đi”. Môt em nhỏ ôm con khỉ con mặt buồn hiu. Hai bên thương thuyết một hồi lâu, thấy ông Mỹ gật đầu ra dấu, mọi người xúm nhau nhào vô chuồn gà chuồn vịt ôm lên trực thăng Chinook chờ sẵn. Ông A Yá đeo cho tôi chiếc c̣ng trên tay làm kỷ niệm. Tôi mang nó cho đến ngày tôi được di tản qua Mỹ.

Đoàn xe buưt nối đuôi nhau chạy qua cổng Phi Long cho đến chiều tối, họ được đưa ra phi trường lên máy bay qua Mỹ ngay đêm đó. Một vài đồng nghiệp của tôi đoán ṃ khoảng một ngàn người.

Một buồi sáng cuối tháng Tư năm 1975 tôi và gia đ́nh được di tản qua Guam. Thiếu Tá Ford, Chỉ Huy Trưởng Phi Trường Anderson Air Base giao cho tôi chức vụ Civil Leader giúp ông ta sắp xếp chỗ tạm trú cho 5,000 người trong ṿng hai mươi bốn giờ. Tôi kêu gọi người t́nh nguyện giúp phối họp với Công Binh lo phân phát bữa ăn. Mỗi ngày máy bay chở tới hàng ngàn người Việt, Miên, Lào từ Philippines, Utapou Thai Lan và từ các nước Đông Nam Á. Làm việc một tuần lễ tại đây, chúng tôi được làm thủ tục để vào Mỹ. Chuyến bay United Airlines chở toán người tỵ bạn Đông Dương đáp xuống phi trường Thủy Quân Lục Chiến Miền Nam California lúc trời hừng sáng. Làm xong thủ tục nhập cảnh, chúng tôi được đưa về tạm trú tại căn nhà số 1, đối diện với cái nhà ăn vỉ đại của Camp Pendleton Thủy Quân Lục Chiến.

Tại trại tỵ nạn Pendleton, tôi được anh Moynahan, một đổng nghiệp lúc c̣n ở DAO Sài G̣n giới thiệu tôi cho hai người đại diện của Thống Đốc Tiểu Bang Washington State. Moynahan giới thiệu Mr. Ed Burke và Joe Aggagar và cho biết mục đích của hai người này là muốn t́m 500 (Năm Trăm) người lên Washington State định cư.

Mr. Ed Burke nói “Ông Dan Even là Thống Đốc đầu tiên của nước Mỹ hưởng ứng lời kêu gọi của Tổng Thống Ford đứng ra bảo trợ và giúp đở người tỵ nạn”, anh cũng sơ lược chương tŕnh định cư người người tỵ nạn Đông Dương của Washington State: “Washington State có môt dân số hơn năm triệu. Khí hậu bốn mùa hiền ḥa. Sau khi định cư, trẻ em đi học miển phí. Chánh phủ giúp t́m việc làm cho người lớn, gia đ́nh được giúp đỡ tài chánh, phiếu thực phẩm và phiếu y tế cho mọi người”. Anh cũng cho biết tôi được mướn làm việc cho Chưởng Tŕnh Tỵ Nạn Đông Dương của Washington State kể từ hôm nay. Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là t́m cho được 500 người chịu lên Washington State định cư. Hai người cùng hứa đưa tôi và gia d́nh lên Olympia địng cư và làm việc cho Bộ Xă Hội của tiểu bang. Nói xong, Ed Burke và Joe Aggagar phải đi họp. Hai người bắt tay chúc mừng tôi và chúc tôi nhiều may mắn.

Tôi bắt đầu làm việc cho chương tŕnh tỵ nạn của tiểu bang Washington từ hôm đó. Tôi vào cái trailer house, nhà tạm dùng làm việc, đánh máy lập một mẫu đơn đ̣i hỏi tên họ và số người cùng đi định cư Washington State. Tôi làm copy 100 bản, lấy miếng băng keo dáng dính tấm bản đồ Washington State lên vách tường cái trailer rồi ôm tập giấy đứng trước cái trailer house phát ra cho bà con. Một vài người hỏi tôi tiểu bang Washington ở đâu? Tôi chỉ lên bản đồ và cười trừ.

Thật t́nh mà nói tôi không biết Washington State là đâu. Có người dè dặt khi nh́n lên tấm bản đồ thấy Washington State sát biên giới với Canada và Bắc Cực nên rụt rè. Và cũng có người nghĩ lại ḿnh đi tỵ nạn mà được một ông Thống Đốc của tiểu bang đứng ra bảo trợ th́ quá tốt, khó mà từ chối. Trưa hôm đó, sau khi họp xong, Ed và Joe hỏi tôi chuyện tuyển người ra sao? Tôi cộng số người ghi danh th́ nó đă lên hơn một ngàn người. Cao gắp ba lần con số năm trăm tôi được giao phó. Ed và Joe kêu trời.

Tối hôm đó chúng tôi cùng nhau xem xét thông tin ghi trên mỗi tờ giấy xin đi định cư, báo cáo về Olympia cho Giám Đốc Chương Tŕnh Tỵ Nạn Đông Dương Washington State số người xin đi đă lên hơn một ngàn người, để họ tuyển mộ thêm người bảo trợ. Một mặt lập danh sách nộp cho sở di trú để kiểm tra an ninh (Security Clearance) mới có thể ra trại đi định cư.

Tháng Sáu 1975 tôi hướng dẩn năm gia đ́nh rời trại tỵ nạn Pendleton bay lên Seattle, mở màng Chương Tŕnh Tỵ Nạn Washington State. Chúng tôi định cư ở Thủ Phủ Olympia. Tôi tiếp tục công việc cho chương tŕnh định cư của Washington State. Công việc chính của tôi bây giờ là đi khắp tiểu bang nơi có người tỵ nạn đến định cư để tỉm hiểu và giải quyết với các văn pḥng Xă Hội địa phương khi họ gặp trở ngại xin dịch vụ xă hội. Thiết lập các lớp học Anh ngữ và huấn nghệ thuận tiện cho bà con và liên lạc với cơ quan t́m việc làm cho người tỵ nạn, giúp họ tự lập càng sớm càng tốt.

Một trong các công việc khác của tôi là mỗi tam cá nguyệt phải nộp một bản báo cáo cho Văn Pḥng Tỵ Nạn (Office of Refugee Resettlement (ORR) Washington D.C) của chánh phủ liên bang, số người nhận trợ giúp trong tiểu bang Washington, chiếu theo đó chánh phủ liên bang hoàn trả chi phí cho Washington State. Bản báo cáo gồm có tên và họ, số An Sinh Xă Hội và quốc tịch nguyên gốc của tất cả những người đến Washington State định cư hay đă rời khỏi Washington State.

Từ ngày anh A-Ya thưởng cho tôi chiếc c̣ng đeo trên tay lúc đoàn Tâm Lư Chiến yểm trợ di tản người Thượng Quận Cam Lâm Việt Nam cho đến nay tôi vẩn c̣n mang trên tay. H́nh ảnh những người Thượng trong sương mờ bên căn nhà sàn trong rừng thẳm, hốt hoảng rời bỏ cuộc sống trong rừng già đi về Cam Lâm họ phải sống trong căn nhà xi măng kiến cố mái tole nóng bức mà không một tất đất để trông trọt khiến tôi luôn luôn nhớ đến người Thượng trong tiểu bang để giúp đỡ nếu họ cần. Suốt thời gian hai mươi năm tôi phụ trách công việc này, tôi chưa bao giờ thấy một người nào có cái họ thuần túy "Y" hay "A" người Thượng Việt Nam.

Ngày tháng trôi qua. Ba mươi năm sau, tôi đến dự bữa tiệc Thanksgiving tại nhà một người bạn. Tôi ngồi đối diện với một cố gái trẻ xinh đẹp. Tôi tự giới thiệu, cô đáp lại “Con tên Loan”. Tôi hỏi cháu ở đâu?

- Con ở Lynwood. Seattle.

- Con đến Mỹ hồi nào?

- Dạ, lâu rồi. Con tới đây với ba và má hồi năm 75.

Thấy vui vui tôi hỏi tiếp:

- Ở Việt Nam Gia đ́nh con ở tỉnh nào?

- Dạ. Ở Sài G̣n.

Lần đầu gặp Loan, sợ hỏi nhiều mất lịch sự, tôi xin Loan số điện thoại và tên của ba con bé.

“Ba của con tên Y-Bê”, Loan nói.

Tôi sửng sốt, nghỉ Loan là người Thượng, nhóm người tôi đă đi t́m mấy chục năm mà không gặp.

Tối hôm đó tôi gọi điện thoại cho ba của Loan. Anh này cho biết Anh tên và họ là "Y-Bê”, là người Thượng Montagnar Việt Nam.

Thật là thích thú, tôi hỏi tiếp và anh nói “Hồi đó tôi ở Komtum. Lớn lên đi làm cho Biệt Kích Mỹ ở Pleiku. Tới lúc Mỹ rút đi, tôi đi làm cho hảng An Ninh Pacific Security, đi gát an ninh sở Mỹ ở Sài G̣n”.

Anh kể lại cuộc di tản cho tôi nghe: “Một ông Mục Sư Mỹ tốt bụng đưa nhiều người Thượng đi qua Mỹ. Một số lớn đi qua bên kia East Cost nước Mỹ. Tụi tôi mấy gia đ́nh th́ có mấy ông lính Mỹ Veteran ở Seattle bảo lănh đem qua đây. Mấy ông này giúp đỡ chúng tôi t́m việc làm. Nhờ đi làm khổ cực, tụi tôi người nào cũng có mua xe, có nhà ở, không có nhờ chánh phủ”. Kể từ đó tôi và anh Y-Bê gặp nhau nhiều lần và nói nhiều chuyện về năm xưa. Dần dần tôi gặp thêm mấy người trong nhóm của Y-Bê ở Seattle.

Bặt đi một thời gian khá lâu không có liên lạc với anh, một hôm tôi nhận được cái email từ Hội Cựu Chiến Binh Hoa Kư. Email nói rơ mục đích gây quỹ để giúp cho anh "Y- Bê" bịnh nặng đang nằm điều trị ở nhà thương ở Sài G̣n Việt Nam.

Tôi gọi cho Loan, được cho biết email đó do hội Cựu Chiến Binh Mỹ gởi cho tất cả cựu quân nhân Mỹ. Họ kêu gọi giúp đỡ. “Ba của con đang nằm nhà thương Chợ Rẩy Sài G̣n. Con có nói chuyện với một ông Mỹ tại Lănh Sự Quán ở Sài G̣n. Ông ta đă tới nhà thương thăm ba của con. Ông Mỹ đă nói chuyện với Bác Sỹ nhà thương, và yêu cầu Bác Sỹ gởi Treatment Plan (Báo cáo cách tri liệu) để ông Mỹ trả tiền. Ba của con có một bà bạn ở trong nhà thương chăm sóc. Bà này giúp cho ba của con từ ngày ông bị bịnh. Ngày mai con đi Việt Nam thăm ba của con”.

Một tuần lễ sau Loan về Mỹ. Loan điện thoại cho tôi, nói: “Ba của con c̣n bịnh. Ông Mỹ nói khi nào ba của con đi được ông sẽ đưa vể Mỹ. Con yêu cầu ông Mỹ cho bà bạn của ba con cùng đi Mỷ, v́ ba của con đă ly dị, ở đây không có người giúp đỡ”.

Một tháng sau, Hội Cưu Quân Nhân Mỹ thông báo cho Loan ngày giờ ba của Loan và người bạn mới đến phi trường Seatac. Một chiếc xe cứu thương chở anh "Y- Bê" từ phi trường thẳng đến nhà thương quân y Seattle nhập viện. Mọi người vui mừng.

Những ngày sau đó tôi đến thăm, nghe anh tâm sự: “Bịnh của tôi có lâu rồi mà không hết. Hồi qua Mỹ tôi có vợ, có con đi theo. Sau 40 năm ở Mỹ, tôi với bà vợ ly dị. Sống một ḿnh cô đơn buồn quá, nhớ mấy bà con ở làng cũ, tôi đi về Việt Nam chơi. Về đó bà con đă đi đâu hết rồi. Tôi trở lại Sài G̣n hai tuần th́ bị bịnh. May nhờ có bà này, bả đưa tôi vô nhà thương chớ không th́ tôi chết bên đó rồi. Bây giờ về đây, mỗi tuần tôi phải đi chạy máy lọc máu ba lần. Con cái lớn hết rồi. Tụi nó có vợ, có chồng ra ở riêng hết rồi. Tôi biết ơn mấy ông Mỹ đă cho bà này theo tôi. Nhờ bả giúp. Tôi mừng lắm”.

Năm tháng sau, cháu Loan điện thoại cho tôi biết "Ba Con Chết Tối Hôm Qua"

Vào một buổi sáng sương hăy c̣n mờ nhạt phủ chụp lên hằng trăm nấm mộ bia trong một nghỉa trang ở ngoại ô, đám tang của anh Y-Bê được cử hành không có rượu cần, không nghe tiếng chiên, tiếng cồn, không cả tiếng trống chập chùng vang dội rừng hoang cao nguyên, chỉ có mấy chiến hữu năm xưa đến tiễn đưa anh về miền Vỉnh Hằng. Anh Y-Bê ra đi để lại một nhóm anh em và hậu duệ người Thượng nơi miền đất Măi Măi Xanh Washington State.

Đường B́nh






Number of visits:
free hit counters