|
Lời Khuyên Của Tía
(Father Day 2007)
Thị trấn Ninh Ḥa là quê hương
đầu đời của
tôi. Gia đ́nh êm ấm nhưng cuộc sống quá buồn tẽ. Trong thị trấn, bạn
bè của tôi đứa nào cũng đi xa học hỏi, bạn gái th́ lần lượt lấy chồng xa xứ,
mặc dù tôi đă đi nhiều nơi xa xôi tiềm việc
làm, nhưng kết cuộc chỉ mang về
bịnh tật và đói rách.
Căn nhà tranh của gia đ́nh tôi nằm giữa cánh đồng khô đường luồng Cây
Thị, Bóng mặt trời xuyên thủng qua mái nhà, tôi đang lên cơn sốt mang từ
B́nh Định về. Sau cái lạnh thấu xương tủy, đến cái nóng đổ lữa, hoa că
đôi mắt, tôi rên rĩ nói không ra tiếng, rồi thiếp đi. Cho đến lúc ánh
mặt trời chiếu ngay mặt làm cho tôi tỉnh giấc, mồ hổi nhuể nhọai, ướt
dầm bộ ván gổ. Tía của tôi đến ngồi kế bên từ hồi nào
tôi không hay. Ông
không nói lời nào, tôi nghĩ có lẻ ổng thấy tôi quằn quại trong cơn sốt ổng
buồn. Nhà không có tiền mua thuốc cho tôi v́ trong lúc này Tía củng
đang thất nghiệp, và đang bịnh ngặc nghèo.
Tôi đang ngán ngẩm cho cuộc đời, bổng dưng Tía nói: "Con nên đi Saigon
t́m việc ǵ làm chớ ở Ninh Ḥa này không có ǵ cho con". Sau cơn sốt rét
lạnh thấu xương rồi người nóng như ngồi trong ḷ lữa, câu nói của Tía
làm cho tôi thức tỉnh. Tôi nghĩ đă đến lúc
tôi phải nghe lời Tía đi cho
thật xa hơn nữa, làm một cái ǵ cho ḿnh. Hôm
sau, tôi đi mượn thằng bạn
Lư Nghiêm Tuấn, 50 đồng,
rồi một chiều kia, tôi lấy cái túi vải, nhét thêm bộ đồ, mang đôi dép
Nhựt đi bộ lên ga, mua tấm vé xe lữa, xuôi Trường Sơn đi Saigon Cuộc đời
phiêu bạc của chàng thanh niên Ninh Ḥa bắc đầu, không một người tiển
đưa.
Chiều sân ga Ninh Ḥa buồn tênh, nắng vàng xuyên qua cữa sồ toa xe lữa.
Sau tiếng c̣i rú, xe chuyển bánh, tôi vói nh́n lại phía sau chẳng thấy
bóng người quen. Nh́n nắng vàng hôn nhẹ hàng Phượng Vĩ
trước sân ga mà ḷng bàng hoàng, ngở ngàng,
sau hàng chuối ngả ba Phong Ấp, ánh mặt trời lịm dần,
chiếc xe định mệnh chui qua hầm Rù Ŕ trời bắc đầu tối,
Nha Trang đă lên đèn. Ga Nha Trang giờ rộn rịp rồi xe lại chuyển bánh xa
dần. Suốt đêm đôi mắt chập chờn, xe ghé nhiều ga nhỏ, mệt quá,
tôi thiếp
đi, cho đến khi xe qua cầu Đồng Nai, một hồi c̣i rú lên, báo hiệu
xe đến Saigon. Xe chạy chậm lại, rồi ngừng hẳng.
Mang túi vải lên vai tôi xuống xe lữa chậm rải bước, đang dáo giác th́
gặp hai ông anh tới đón, theo chân hai ông anh đi qua
câu lạc bộ Bến Thành vượt bùng binh chợ Bến
Thành, lên xe buưt lần đầu tiên trong đời, đi một lèo lên Chợ Lớn làm
tôi mất hết phương hướng, đâu biết Saigon Chợ Lớn là đâu.
Ninh Ḥa là quê hương đầu đời. Saigon là Quê Hương trưởng thành.
Qua một đêm dài mệt mỏi trong rạp hát Đại Quang Minh Chợ Lớn, sáng dậy
bụng đói uể oải, tôi lanh chân theo hai ông anh lên xe buưt xuống Saigon đến rạp
hát Long Phụng đường Gia Long gần Ngă Sáu Saigon. Sau khi gặp ông chủ,
bàn giao xong, hai ông anh giă từ, trở về Chợ Lớn bỏ
tôi lại một ḿnh.
Từ giờ phút này tôi tứ cố vô thân, không một người quen. Tất cả xa lạ.
Ông chủ và phần lớn người làm ở dây là người Tàu,
cái họ Đường của tôi thỉ rất ngọt ngào nhưng cái giọng nói Ninh Què (Ninh
Ḥa),
khiến cho người nghe ngượn ngùng, nhưng đối lại họ rất thân thiện. Được
mọi người bày tỏ cảm t́nh, nhứt là hai cô gái trẻ, cháu của ông chủ ngồi
bán vé, đă bày tỏ thân thiện ngay từ ngày đầu, giúp đở
tôi nhiều mặt,
khiến tôi thấy phấn khởi.
Chiếc Xe Độc Mă
Công việc đầu tiên của tôi tại Saigon Ḥn
Ngọc Viển Đông là đi phát quảng cáo cho rạp chiếu
bóng Long Phụng, rạp hát này quanh năm suốt tháng
chỉ chiếu phim Ấn Đô. Buổi sáng đầu tiên làm việc, ông xe ngựa dẫn chiếc
xe độc mă tới trước rạp hát. Tôi và ông xe ngựa mỗi người vát một tấm
pano có h́nh một cô tài tử Ấn Độ, ăn mặc hở hang, mặc sarong sặc sở, mặt
mày vẽ bông hoa và mang nhiều trang sức. Dựng đứng tấm pano lên xe ngựa,
cột lại cho chặt, tôi rụt rè leo lên xe ngựa ngồi đàng sau, tay ôm một
xấp giấy quăng cáo. Ông xe ngựa lên phía trước, ông giựt giây cương, con
ngựa thong dong đi từng bước giữa các đại lộ của Thủ Đô Saigon. Trên
đường đi, một vài người bước tới, x́a tay mở miệng cười,
tôi phát cho
một miếng giấy quảng cáo, một việc làm rất là nhẹ nhàng khác hẳn những
nhọc nhằn tôi đă trải qua nơi chôn nhau cắt rún của
tôi.
Ngày đầu tôi rất bở ngở, mặt mày ngơ ngát.
Ông xe ngựa nói: "Để tôi đưa
chú đi du ngoạn cho biết Saigon Chợ Lớn "cái
Ḥn Ngọc Viển Đông". Ông dẩn chiếc xe độc mă đi từng bước,
từ rạp hát Long Phụng, ngă Sáu Saigon đường Gia Long, lên chợ Cầu Ông Lảnh ăn hủ tiếu cá, Lần đầu
tôi ăn cái món ăn này thấy rất ngon, cũng v́ tối qua tôi bồn chồn quá, nhịn đói cả đêm.
Sau buổi ăn sáng,
ông dẩn xe ngựa đi hết chỗ này đến chỗ nọ. Từ cái cổng thành Toàn Quyền
Norodom, đường Thống Nhứt, (sau này là Dinh Tổng Thống) qua đường
Tự Do, đi ngang qua Khách Sạn Caravel, Majestic dọc bến Chương Dương lên
Chợ Lớn rồi B́nh Tây. Mỗi ngày một vài nơi, ông đưa
tôi đi khắp Saigon
Chợ Lớn và Gia Định, Từ trung tâm Saigon cho đến các xóm lao động Khánh
Hội Nhà Bè Tân Thuận ông đều đưa tôi đi
, nhờ vậy mà
tôi biết Saigon rất nhiều.
Trước khi đặt chân đến Saigon, tôi đă nghe qua danh tiếng của nó. Saigon
không có biển xanh cát trắng như miền Trung quê
tôi. Saigon không có
núi cao và đất cày lên sỏi đá mà Saigon là Ḥn Ngọc Viễn Đông, xứ phồn
hoa đô hội. Hàng hàng lớp lớp nhà lầu hai ba bốn tầng, cửa hàng buôn bán
đồ sộ, Đại Lộ Nguyển Huệ rộng thênh thang. Ṭa Đô Chính vá các dinh thự
vĩ đại. Chợ Bến Thành hoành tráng trông rất lịch sự. Đường Lê Lợi dập
d́u khách bộ hành. Xe chạy đông ngẹt. Xe ngựa, xe thồ, xích lô, xe kéo,
xe đạp, xe hơi bóng láng đủ loại chạy như mắc cưởi. Saigon ban ngày rất
năng động. Ban đêm đèn màu rực rở, tiếng Dương Cầm bay bổng trông không
gian thâu đêm.
Ngày nào không đi phát quăng cáo, buổi sáng
tôi thức dậy sơm, đứng trên
lầu cao nh́n xuống đường lộ, thấy các em nữ sinh Gia Long, áo dài trắng,
tóc xỏa ngang vai đạp xe chẩm rải đến trường, làm
tôi nhớ người em gái
nhà chung giếng ngă ba đường luồng Cây Thị. Các em học sinh trường Tàu đồng phục áo
trắng quần xanh, đi theo hàng lối đến trường. Chiều tan trường, vài em
ghé lại hỏi han, nghe giọng nói quê mùa Ninh Què của
tôi các em bụm
miệng cười. Có em c̣n nhái giộng chọc quê, khiến cho
tôi quên hết cô đơn.
Ngày qua ngày, công việc của tôi là buổi sáng đi phát quảng cáo, trưa về
ăn cơm đường hẻm, chiều lại ngồi xét vé vô cửa, những ngày rạp chiếu phim
mới, người đi coi rất đông. Tối lại sau khi khán giả ra về,
tôi và mấy
anh em cầm chổi đi quét rạp, lau chùi cho sạch chuẫn bị cho ngày mai.
Sau công việc lau chùi, tôi vát chiếc ghế bố lên mái nhà nằm ngoài trời
nh́n sao rơi, rồi ngủ một mạch tới sáng đâu biết khổ là ǵ.
Saigon tháng Tư mưa buồn, có những đêm nằm nghe tiếng mưa rơi mà tưởng
đâu sét đánh trên đầu. Nh́n bầu trời tâm tối mà nghỉ lại thân
phận cô độc ở xứ người, ḷng buồn hiu. Đă hai cái Tết chưa về Ninh Ḥa,
nhớ lại ngày Tết Ninh Ḥa, tôi và một đám học tṛ trai gái cùng lớp B́nh
Ḥa góp tiền mướn chiếc xe đ̣ chạy ra Đại Lảnh chơi suốt ca ngày.
Hoạc
những ngày trời oi bức, tôi xuống chùa Quăng Đông,
rủ Huỳnh Thọ Huyên ra bờ sông ngồi trên
gốc cây Sung ngă nghiên trên mặt nước, câu cá ḷng tong, thả hai chân
xuống giồng sông Dinh nước chảy mát rợi. Giờ đây,
tôi ở Saigon cô đơn
buồn tủi, tất că nguồn sống tuổi trẽ đă mất.
Tôi
nhận thấy những ǵ tôi
đă có được ngày hôm nay chỉ là miếng ăn thôi,
tôi cũng không biết làm ở
đây cho đến bao giờ, và cuộc đời của
tôi sẽ ra sao.
Nhới lại lời khuyên của Tía, tôi không hài ḷng với những ǵ
tôi đang có,
tôi phải thay đổi cuộc đời, tôi bắc đầu đi trau dồi học vấn. Vừa làm vừa
đi học, và học tất că những ǵ tôi thấy có thể giúp
tôi vươn lên.
Pleiku Đất Đỏ
Đường phố
Saigon rộng lớn, nhưng với người trốn đi lính thi nó rất nhỏ hẹp,
chạy đường nào rồi cũng bị bắc lính. Nghe
lời bạn mách bảo tôi nên đi Pleiku, đi làm cho Lực Lượng Đặc Biệt Mỷ tôi sẻ
không bị bắc đi quân dịch. Nghe lời bạn, tôi lên Pleiku.
Thành phố Pleiku thập niên 60 c̣n sơ khai. Từ
rạp hát Diệp Kính, con đường
Hoàng Diệu chạy dài xuống cuối phố, hai hàng
Phượng Vỉ hoa nở đỏ rực, màu
đỏ của cao nguyên quen thuộc, khiến tôi nhớ
lại cái miền đất đỏ và rựu cần
Banmethuot năm xưa tôi đă có lần ở đó. Du khách
đến Pleiku một lần sẻ nhớ mải. Thành phố nhỏ mà ngày nóng đêm lạnh. Hoa
Phượng nở rộ dọc con đường dài Hoàng Diễu
xinh đẹp. Mấy trái điệp già ḷng tḥng
tụi nḥ chúng tôi lầy cây sào dài hái về ăn. Một ngọn gió nhẹ thổi
qua đưa ngàn chiếc lá li ti bay bỏng thật hửu t́nh. Một tuần lể ở nhờ
nhà người bạn đường Hoàng Diệu,
Đêm nằm cô quạnh nhớ Saigon, tôi quay về Saigon.
Bước qua thập niên 60+, Saigon bắt đầu hiện diện nhiều cơ sở ngoại
quốc. Phái bộ Cố Vấn Quân Sự Mỹ MAAG trên đường Trần Hưng Đạo, Ṭa Đại
Sứ Mỷ đường Thống Nhứt, và nhiều cơ sở ngoại quốc thu nhận nhiều nhân
viên, tôi xin được việc làm phiên dịch viên cho phái bộ Nông Nghiệp
của Đài Loan, Buồn thay, làm
không được bao lâu, họ bắc đầu điều tra lư lịch, thấy
tôi ở trong tuổi
quân dịch, buộc tôi phải thôi việc.
Mặc dầu vậy, Saigon vẫn c̣n nhiều cơ hội để tiến thân. Một người bạn
biết tôi biết tiếng Anh, và rất rành về pha rượu và
thực đơn Pháp Mỹ, tôi
được giới thiệu đi làm cho câu lạc bộ
COCO Club của Mỹ. Tôi bị đuổi vỉ tuổi quân dịch. Rời câu lạc bộ
Mỹ, đi làm cai cho nhà hàng Lê
Lợi. Ngèo không sợ khổ, nhờ siêng năng làm
việc, tôi được nhiều người giới thiệu đi làm thêm
nhiều việc khác, kiếm được nhiều tiền, cuộc sống phây phả nhưng
vẩn cô độc. |